Những điều cần biết về thụ tinh trong ống nghiệm IVF

22/04/2019
Thụ tinh trong ống nghiệm, hay IVF, là loại công nghệ hỗ trợ sinh sản phổ biến và hiệu quả nhất để giúp phụ nữ mang thai, giúp cho cặp vợ chồng vô sinh hiếm muộn và gặp khó khăn về khả năng sinh sản có thể có con.

Phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm liên quan đến việc thụ tinh một quả trứng bên ngoài cơ thể, trong một môi trường nuôi cấy thích hợp và sau đó cấy nó vào tử cung của người phụ nữ.

Theo báo cáo mới nhất năm 2018 của Ủy ban giám sát các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản (ICMART) đã có hơn 8 triệu em bé được sinh ra trên thế giới bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm IVF kể từ lần đầu tiên được thực hiện năm 1978.

Những em bé được sinh ra bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm IVF

Thông tin nhanh về thụ tinh trong ống nghiệm (IVF)

• Thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) có thể giúp mang thai khi các phương pháp điều trị khác không hiệu quả.
• Quá trình này bao gồm thụ tinh một quả trứng bên ngoài cơ thể, và cấy nó vào trong tử cung để tiếp tục mang thai.
• Một phần trăm trẻ sơ sinh được sinh ra ở Hoa Kỳ được thụ thai thông qua IVF.
• Có nhiều khả năng sinh nhiều con với IVF.

Tổng quan về thụ tinh trong ống nghiệm

Trong một thai kỳ bình thường, , khi trứng trưởng thành đã được phóng ra khỏi buồng trứng, được gọi là quá trình rụng trứng, sau đó, tinh trùng sẽ thâm nhập vào trứng để thực hiện quá trình thụ tinh ngay bên trong cơ thể. Trứng được thụ tinh sau đó tự gắn vào thành tử cung và bắt đầu phát triển thành thai nhi. Điều này được gọi là quá trình thụ thai tự nhiên.

Tuy nhiên, nếu việc thụ thai tự nhiên gặp khó khăn hoặc không thể xảy ra bình thường, hỗ trợ sinh sản là một lựa chọn thích hợp.

Thụ tinh trong ống nghiệm đã được sử dụng từ cuối những năm 1970. Vào ngày 25 tháng 7 năm 1978, "em bé ống nghiệm" đầu tiên là Louise Brown, được sinh ra đời. Robert Edwards và Patrick Steptoe, những người hợp tác thực hiện quá trình này, được coi là những người tiên phong của IVF.

Năm 2010, Robert Edwards đã nhận được giải thưởng Nobel về sinh lý học hoặc y học năm 2010 "vì sự phát triển của thụ tinh trong ống nghiệm".

Vào tháng 7 năm 2013, một cặp vợ chồng người Mỹ đã sinh con đầu lòng thông qua IVF do kết quả giải trình tự gen thế hệ mới, một cách sàng lọc phôi mới giúp cải thiện tỷ lệ thành công của IVF và giảm đáng kể chi phí điều trị.

Công nghệ giải trình tự gen giúp các bác sĩ sàng lọc phôi do IVF tạo ra để xác định phôi để mang thai thành công nhất.

Quy trình thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm

Quy trình thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm

Kỹ thuật có thể khác nhau tùy thuộc vào từng phòng khám, nhưng IVF thường bao gồm các bước sau:

1. Ức chế chu kỳ kinh nguyệt tự nhiên

Người phụ nữ nhận được một loại thuốc, thường ở dạng tiêm hàng ngày trong khoảng 2 tuần, để ngăn chặn chu kỳ kinh nguyệt tự nhiên của họ.

2. Kích thích trứng

Thuốc sinh sản có chứa hormone kích thích tố sinh sản (FSH) được cung cấp cho người phụ nữ. FSH làm cho buồng trứng sản xuất nhiều trứng hơn bình thường. Quét siêu âm âm đạo có thể theo dõi quá trình trong buồng trứng.

3. Lấy trứng

Trứng được thu thập thông qua một thủ tục tiểu phẫu gọi là "chọc hút nang trứng". Một cây kim rất mỏng được đưa qua âm đạo và vào buồng trứng. Kim được kết nối với một thiết bị để hút trứng ra. Quá trình này được lặp lại cho mỗi buồng trứng.

Năm 2011, các nhà nghiên cứu cho rằng thu thập 15 quả trứng từ buồng trứng trong một chu kỳ mang lại cơ hội mang thai thành công cao nhất.

Trứng đông lạnh hoặc hiến tặng cũng có thể được sử dụng.

4. Thụ tinh

Những quả trứng đã được thu thập được đặt cùng với tinh trùng và được giữ trong buồng kiểm soát môi trường. Sau vài giờ, tinh trùng sẽ thâm nhập vào trứng.

Đôi khi tinh trùng được tiêm trực tiếp vào trứng bằng phương pháp tiêm tinh trùng vào bào tương trứng (ICSI).

Tinh trùng đông lạnh, được lấy qua sinh thiết tinh hoàn, có thể được sử dụng. Nó được cho là có hiệu quả như tinh trùng tươi trong việc thụ thai thành công.

Trứng được thụ tinh phân chia và trở thành phôi.

Tại thời điểm này, một số trung tâm cung cấp chẩn đoán di truyền tiền cấy ghép có thể sàng lọc phôi cho các rối loạn di truyền. Điều này hơi gây tranh cãi và không phải lúc nào cũng được sử dụng.

Một hoặc hai trong số các phôi tốt nhất được chọn để cấy ghép vào tử cung. Người phụ nữ sau đó được cho dùng progesterone hoặc human chorionic gonadotrophin- hCG để giúp niêm mạc tử cung tiếp nhận phôi.

Quy trình thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm IVF

5. Chuyển phôi

Đôi khi, có nhiều hơn một phôi được đặt trong bụng mẹ. Điều quan trọng là bác sĩ và cặp vợ chồng muốn có con thảo luận về việc nên chuyển bao nhiêu phôi. Thông thường, bác sĩ sẽ chỉ chuyển nhiều hơn một phôi nếu không có phôi lý tưởng nhất.

Việc chuyển phôi được thực hiện bằng cách sử dụng một ống mỏng, hoặc ống thông. Nó đi vào tử cung qua âm đạo. Khi phôi dính vào niêm mạc tử cung, sự phát triển phôi khỏe mạnh có thể bắt đầu.

Những người có thể thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm

Thụ tinh trong ống nghiệm là lý tưởng cho những phụ nữ không thể mang thai thông qua giao hợp thông thường hoặc sau 12 chu kỳ thụ tinh nhân tạo.

IVF có thể là một lựa chọn nếu:
• Một trong hai đối tác đã nhận được chẩn đoán vô sinh không rõ nguyên nhân
• Các kỹ thuật khác, chẳng hạn như sử dụng thuốc sinh sản hoặc thụ tinh trong buồng tử cung (IUI), không có hiệu quả
• Ông dẫn trứng của phụ nữ bị chặn

Tỉ lệ thành công của thụ tinh trong ống nghiệm

Trong năm 2016, tỷ lệ sinh thông qua thụ tinh trong ống nghiệm là 26%.

Vào năm 2010, Dịch vụ Y tế Quốc gia của Vương quốc Anh (NHS) đã ước tính rằng cơ hội thụ tinh nhân tạo thành công phụ thuộc vào tuổi tác như sau:
• 32,2% ở phụ nữ dưới 35 tuổi
• 27,7% ở phụ nữ từ 35 đến 37 tuổi
• 20,8% ở phụ nữ từ 38 đến 39 tuổi
• 13,6% ở phụ nữ từ 40 đến 42 tuổi
• 5% ở phụ nữ từ 43 đến 44 tuổi
• 1,9% ở phụ nữ trên 44 tuổi

Các thống kê này khác nhau, tùy thuộc vào nơi IVF được thực hiện.

Những rủi ro khi thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm

Các yếu tố khác có thể ảnh hưởng đến thành công của thụ tinh trong ống nghiệm

Ngoài tuổi tác, khả năng thành công của thụ tinh nhân tạo còn phụ thuộc vào các yếu tố sau:
• Thời gian bạn cố gắng thụ thai
• Nguyên nhân gây vô sinh
• Có hay không có thai hoặc đã sinh con trước đó
• Chiến lược điều trị sẽ được thực hiện

Một nghiên cứu, được công bố trên CMAJ Open năm 2013, đã gợi ý rằng những phụ nữ có đủ lượng vitamin D có khả năng mang thai khi thực hiện IVF cao hơn đáng kể so với những người có lượng vitamin này thấp hơn. Tuy nhiên, thực tế vẫn chưa khẳng được nếu bổ sung vitamin D có thể ảnh hưởng đến cơ hội mang thai tự nhiên hoặc với IVF hay không.

Rủi ro khi thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm

Tác dụng phụ của thuốc

Một số phụ nữ có thể có phản ứng với các loại thuốc được đưa vào sử dụng trong quá trình điều trị.

Các tác dụng phụ có thể có của thuốc dùng trong IVF bao gồm :
• Buồn nôn và ói mửa
• Khó thở
• Cáu gắt
• Bốc hỏa
• Buồng trứng mở rộng
• Khó ngủ
• Đau bụng

Bầm tím cũng có thể là kết quả của việc tiêm lặp lại hàng ngày.

Nguy cơ sức khỏe cho người mẹ

Một trường hợp hiếm xảy ra ở những người phụ nữ thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm là hội chứng quá kích buồng trứng (OHSS). Điều này xảy ra khi buồng trứng phản ứng quá mức với các tuyến sinh dục, do đó có quá nhiều trứng phát triển trong buồng trứng có thể gây ra sưng đau bụng nghiêm trọng và khó thở. Nếu hội chứng quá khích buồng trứng xảy ra, bác sĩ có thể đề nghị khởi động lại toàn bộ chu kỳ với liều gonadotropin thấp hơn.

Nghiên cứu được công bố trên BMJ cho thấy sự liên quan của  IVF với nguy cơ tắc mạch phổi cao hơn, hoặc tắc nghẽn động mạch chính của phổi, và huyết khối tĩnh mạch, hoặc cục máu đông, trong ba tháng đầu của thai kỳ.

Những rủi ro với người mẹ khi thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm IVF

Sảy thai

Nguyên nhân hàng đầu gây sảy thai, cho dù trong IVF hay trong thụ thai tự nhiên, là một số lượng nhiễm sắc thể bất thường, được gọi là nhiễm sắc thể thể dị bội. Phát hiện dị tật trong trứng hoặc tinh trùng trước khi tiến hành IVF, hoặc trong phôi trước khi cấy, có thể giúp tăng cơ hội mang thai thành công.

Năm 2013, các nhà khoa học tuyên bố rằng họ đã phát triển một công nghệ mới gọi là time-lapse imaging. Kỹ thuật này có thể làm tăng cơ hội lựa chọn phôi phù hợp để thực hiện IVF thành công, mặc dù cần phải nghiên cứu thêm.

Mang đa thai

Khi có nhiều hơn một phôi được chuyển vào tử cung, khả năng sinh đôi, sinh ba hoặc sinh nhiều con sẽ cao hơn.

Mang đa thai cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ:
• Sinh non hoặc nhẹ cân
• Tăng gấp đôi nguy cơ mắc bệnh tiểu đường ở người mẹ
• Tăng huyết áp ở người mẹ
Bác sĩ có thể khuyên rằng chỉ nên chuyển một phôi ở những phụ nữ có khả năng sinh đôi cao.

>>> Nên lựa chọn phương pháp thụ tinh nhân tạo IUI hay IVF?

Bộ đôi sản phẩm CONCEPTIO HOMMECONCEPTIO FEMME giúp tăng khả năng thụ thai ở cả nam và nữ.
Conceptio Femme
Conceptio Femme
• Cung cấp các khoáng chất và vitamin cần thiết cho sinh sản sản nữ giới, giúp tăng chất lượng trứng và quá hiệu quả của quá trình thụ thai và mang thai.
• Đáp ứng nhu cầu vitamin và khoáng chất cần thiết cho cơ thể người phụ nữ trước và trong quá trình mang thai.

Conceptio Homme
Conceptio Homme
• Giúp bổ sung các chất cần thiết giúp chống lại tác động của oxy hóa, tăng cường sinh lực nam giới, tăng khả năng di chuyển và cải thiện chất lượng tinh trùng.

Conceptio phù hợp sử dụng cho những cặp vợ chồng đang cố gắng thụ thai tự nhiên và trước khi thực hiện thụ thai trong ống nghiệm.

Tư vấn sức khỏe

Tư vấn trực tiếp

Bs Trịnh: 093 531 4488







Hotline: 024 63 288 488 - 0935 314 488